Tag: vi khuẩn đường ruột

Vai trò của hệ vi khuẩn chí đường ruột

Vi khuẩn ở đường ruột thực hiện nhiều chức năng hữu ích cho con người, bao gồm chức năng tiêu hoá các chất giàu năng lượng chưa được sử dụng, kích thích sự tăng trưởng tế bào, ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại, làm cho hệ miễn dịch chỉ phản ứng đối với các vi khuẩn gây bệnh, bảo vệ cơ thể khỏi một số bệnh.

.

Tác dụng tới quá trình lên men Carbohydrate và hấp thu

.

Cơ thể con người không thể sử dụng một vài carbohydrate, không thể tiêu hoá nếu thiếu vi khuẩn đường ruột do một số vi khuẩn có các enzyme để chuyển hoá một số loại polysaccharide mà tế bào người không có. Carbohydrate mà cơ thể người không thể tiêu hoá nếu thiếu vi khuẩn chí là các loại tinh bột, chất xơ, oligosaccharide và đường như lactose, đường rượu, chất nhày đường ruột và protein.

vi khuan duong ruot nguoi

Vi khuẩn chí giúp chuyển hoá carbohydrate, lên men và chuyển thành các acid béo mạch ngắn (SCFAs) và được cơ thể sử dụng như một nguồn năng lượng và các chất dinh dưỡng hữu ích, chúng còn làm tăng hấp thu nước, giảm khả năng phát triển các vi khuẩn gây bệnh, tăng sự phát triển tế bào đường ruột và phát triển vi khuẩn có ích. Các acid béo mạch ngắn được tạo thành do quá trình lên men đường bao gồm các acid như acid propionic, acid butyric…. Gas và các acid hữu cơ như acid lactic cũng được sản xuất nhờ quá trình lên men này. Acid acetic được cơ thể sử dụng, acid propionic giúp gan sản xuất ATP và acid butyric cung cấp năng lượng cho tế bào đường ruột và có tác dụng ngăn ngừa ung thư.

.

Có nhiều bằng chứng khác còn cho thấy vi khuẩn chí làm tăng quá trình hấp thu và dự trữ lipid. Vi khuẩn chí giúp cơ thể tăng hấp thu các vitamin như vitamin K. Hơn nữa các acid béo mạch ngắn còn giúp cơ thể hấp thu các chất khác như calci, magie và sắt. Các acid béo mạch ngắn còn làm tăng sự phát triển, kiểm soát sự tăng sinh và biệt hoá các tế bào biểu mô ruột, giúp các mô lympho cạnh đường tiêu hoá phát triển. Vi khuẩn còn làm thay đổi sự phát triển đường ruột thông qua việc thay đổi sản sinh các protein bề mặt tế bào như protein vận chuyển natri và glucose.

.

Ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh

.

Một vai trò quan trọng khác của vi khuẩn chí là ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, nấm và các vi khuẩn có hại như Clostridium difficile không thể phát triển quá mức do phải cạnh tranh với các vi khuẩn có ích. Tác dụng rào cản của vi khuẩn có ích là ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh và ức chế sự phát triển làm giảm số lượng các vi khuẩn này trong đường ruột. Các vi khuẩn chí còn ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn có hại thông qua cạnh tranh các chất dinh dưỡng và điểm gắn (receptor) vào tế bào biểu mô của ruột kết.

.

Các vi khuẩn cộng sinh thường thành công hơn trong việc cạnh tranh này. Các vi khuẩn chí gửi các tín hiệu hoá học đến chủ thể về số lượng chất dinh dưỡng mà chúng cần và chủ thể chỉ cung cấp đủ số lượng đó, do vậy các vi khuẩn có hại bị đói, thiếu chất dinh dưỡng. Các vi khuẩn có ích còn sản xuất ra chất bacteriocin có thể tiêu diệt vi khuẩn có hại và số lượng của chúng được điều khiển bởi các enzyme của chủ thể. Quá trình lên men và tạo ra các acid béo cũng làm giảm độ pH trong ruột già, làm giảm sự tăng sinh của vi khuẩn có hại và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có ích. Độ pH cũng có thể làm tăng bài tiết carcinogen.

.

Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch

.

Các vi khuẩn chí đường ruột tác động một cách liên tục lên hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch của cơ thể. Các vi khuẩn này là yếu tố quan trọng trong sự phát triển sớm hệ miễn dịch màng nhày, cả yếu tố vật lí và chức năng, nó còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng sau này trong hoạt động của chúng. Các vi khuẩn kích thích các tế bào lympho cùng với màng nhày tạo ra các kháng thể đối với vi khuẩn gây bệnh. Hệ miễn dịch nhận biết và tiêu diệt các vi khuẩn có hại, không tiêu diệt các vi khuẩn có ích và sự dung nạp được hình thành ở trẻ.

.

Ngay sau khi sinh, vi khuẩn đã có mặt trong đường tiêu hoá của trẻ. Những vi khuẩn có mặt đầu tiên trong đường tiêu hoá có khả năng tác động lên các đáp ứng miễn dịch và làm cho chúng thuận lợi hơn với các vi khuẩn này và ít thuận lợi hơn cho các vi khuẩn cạnh tranh, do vậy các vi khuẩn có mặt đầu tiên trong ruột đóng vai trò quan trọng trong thành phần vi khuẩn đường tiêu hoá sau này. Tuy nhiên từ thời điểm trẻ ăn bổ sung thì ưu thế chuyển từ vi khuẩn yếm khí như Streptococci và Escherichia coli sang vi khuẩn kị khí.

.

Các nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy, các vi khuẩn chí đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc sản sinh TLRs trong ruột giúp cơ thể hàn gắn các tổn thương. Vi khuẩn chí có thể ảnh hưởng đến “dung nạp miệng” làm cho nó ít nhạy cảm với các kháng nguyên được tiêu hoá, trong đó có kháng nguyên do vi khuẩn có ích tạo ra. Lactobacilli và Bifidobacteria có thể tác động lên miễn dịch cục bộ và miễn dịch hệ thống. Tần suất mắc bệnh và các rối loạn đường ruột ở trẻ được bú mẹ có thể liên quan đến sự khác nhau về thành phần vi khuẩn giữa trẻ bú mẹ và trẻ được nuôi bằng sữa công thức.

.

Lactobacilli và Bifidobacteria định cư trong ruột chống lại việc định cư của các vi khuẩn gây bệnh và do vậy nó thực hiện một phần chức năng rào cản của ruột. Các vi khuẩn này cũng có liên quan đến việc bài tiết các chất có tính chất chống vi khuẩn và mucin thông qua việc kích thích gen MUC2 và MUC3, một phần rào cản của ruột ngăn chặn sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh. Một vài Lactobacilli và Bifidobacteria làm giảm các phản ứng miễn dịch đối với các kháng nguyên và làm giảm các đáp ứng miễn dịch dị ứng.

.

Một tác động khác của vi khuẩn đường ruột là làm tăng đáp ứng miễn dịch sIgA và vi khuẩn đường ruột. sIgA là immunoglobulin quan trọng và chiếm ưu thế trên bề mặt màng nhày, bảo vệ chống lại các kháng nguyên, vi khuẩn gây bệnh, các độc tố và các yếu tố độc hại khác. Việc tổng hợp sIgA ở ruột chịu tác động của vi khuẩn. Sự phát triển của tế bào sản xuất IgA ở màng nhày của ruột, tiền sIgA chịu ảnh hưởng nhiều của vi khuẩn đường ruột. Sữa mẹ có chứa nhiều sIgA và truyền sang cho trẻ. Thêm vào đó Bifidobacteria có nhiều ở những trẻ được bú mẹ kích thích việc tổng hợp và bài tiết IgA. Trong 28 ngày đầu sau khi sinh, ở những trẻ được nuôi bằng sữa công thức thì sIgA không có trong phân. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy khi bổ sung Lactobacilli và Bifidobacteria bằng đường miệng thì ảnh hưởng đến sIgA.

.

Các nghiên cứu trên trẻ sơ sinh nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung một số loài Lactobacilli và Bifidobacteria lên việc kích thích các đáp ứng miễn dịch màng nhày cũng cho các kết quả dương tính. Có thể nói rằng từng loại vi khuẩn, (đặc biệt là Bifidobacteria và Lactobacilli) đã giúp cho vật chủ (cơ thể) duy trì chức năng rào cản của ruột và các đáp ứng miễn dịch một cách hợp lí.

.

Phòng ngừa dị ứng

.

Vi khuẩn chí cũng tham gia vào việc ngăn ngừa dị ứng, một phản ứng quá mức của hệ miễn dịch đối với các kháng nguyên lành tính. Nhiều nghiên cứu về hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cho thấy thành phần vi khuẩn đường ruột của trẻ bị dị ứng và trẻ không bị dị ứng là khác nhau, những trẻ bị dị ứng có số lượng các loại vi khuẩn có hại như C.difficile và S.aureus nhiều hơn và có ít Bacteroides và Bifidobacteria. Điều này được giải thích là do các vi khuẩn có ích kích thích, làm cho hệ miễn dịch phản ứng một cách hợp lí đối với các kháng nguyên và việc thiếu các vi khuẩn này làm cho hệ miễn dịch phản ứng quá mức đối với các kháng nguyên. Ở khía cạnh khác, sự khác nhau về vi khuẩn đường ruột có thể chỉ là kết quả chứ không phải nguyên nhân gây ra dị ứng.

.

Phòng ngừa các bệnh viêm ruột

.

Một vài tác giả cho rằng các acid béo mạch ngắn (SCFAs) do vi khuẩn chí sinh ra giúp phòng ngừa các bệnh viêm ruột ở trẻ nhỏ. Tần suất mắc mới và tỷ lệ mắc bệnh IBD cao hơn ở các nước công nghiệp phát triển so với các nước có nền kinh tế kém hơn, bệnh cũng có liên quan đến việc vệ sinh tốt khi còn trẻ, không nuôi con bằng sữa mẹ, tiêu thụ nhiều đường và mỡ động vật và tần suất mắc mới tỷ lệ nghịch với vệ sinh kém trong năm đầu của cuộc đời, tiêu thụ rau quả và các thức ăn chưa được chế biến . Việc sử dụng kháng sinh giết chết các vi khuẩn có lợi, cũng như vi khuẩn có hại cũng có mối liên quan với IBD. Mặt khác, việc sử dụng probiotic mang lại lợi ích cho sức khoẻ, giúp điều trị IBD.

.

Hệ vi khuẩn chí đường ruột với các bệnh khác

.

Bên cạnh việc có lợi cho sức khoẻ, vi khuẩn đường tiêu hoá cũng có thể có hại cho cơ thể. Chúng có thể sản xuất độc tố và carcinogen liên quan đến các bệnh nhiễm trùng máu, ung thư ruột kết và IBD. Do vậy, điều quan trọng đối với sức khoẻ là phải cân bằng số lượng vi khuẩn, quá nhiều hoặc quá ít đều không có lợi cho sức khoẻ. Có thể dùng enzyme để điều hoà sự cân bằng này.

Ths Nguyễn Lân

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Hệ vi khuẩn chí đường ruột ở trẻ sơ sinh

Đường ruột của trẻ mới sinh là vô trùng. Ngay sau khi được sinh ra, số lượng vi khuẩn chí đường ruột của trẻ phát triển nhanh và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yếu tố di truyền, đẻ thường hay đẻ có can thiệp, vi khuẩn của người mẹ, cách nuôi trẻ và môi trường xung quanh trẻ.

.

Khi đứa trẻ vừa được sinh ra, ngay lập tức vi khuẩn từ người mẹ và môi trường xung quanh xâm nhập vào đường tiêu hoá của trẻ. Ngay sau khi đẻ trẻ sơ sinh đã có vi khuẩn ở đường tiêu hoá, các vi khuẩn này có nguồn gốc từ phân của người mẹ, nếu đứa trẻ được sinh ra bằng can thiệp thì có thể nhiễm vi khuẩn từ mẹ, nhưng chủ yếu là từ môi trường xung quanh.

vi khuan duong ruot nguoiHệ vi khuẩn đường ruột người

.

Sau khi sinh, vi khuẩn từ môi trường bên ngoài qua đường miệng và đường da thâm nhập vào cơ thể trẻ khi mẹ cho trẻ bú, hôn trẻ, vuốt ve… E. coli và streptococci là những vi khuẩn đầu tiên có mặt ở trẻ và chỉ sau vài ngày số lượng vi khuẩn có thể đạt tới 10^8 – 10^10/g phân.

.

Trong tuần đầu sau khi sinh, những vi khuẩn này tạo nên một môi trường thuận lợi cho sự có mặt tiếp theo của các vi khuẩn kị khí, chủ yếu là các vi khuẩn thuộc các loài Bifidobacterium, Bacteroides, Clostridium và Ruminococcus. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thì Bifidobacteria tăng nhanh và chiếm ưu thế, có thể do trong sữa mẹ có yếu tố phát triển Bifidobacteria và chiếm khoảng 80-90% tổng số vi khuẩn, Lactobacilli và Bacteroids cũng tăng nhưng ít hơn và Enterobacteria thì giảm.

.

Trẻ được nuôi bằng các loại sữa bột thì vi khuẩn đa dạng hơn với số lượng lớn Enterobacteriaceae, enterococci, bifidobacteria, Bacteroides và clostridia, chủ yếu là Coliform và Bacteroids. Khi trẻ bắt đầu ăn dặm, thì vi khuẩn của trẻ bú mẹ là gần giống như của trẻ ăn sữa ngoài, khi trẻ hai tuổi thì hệ vi khuẩn trong cơ thể giống như ở người trưởng thành. Mặc dù thành phần của vi khuẩn đường ruột là khác nhau giữa các cá thể, nhưng trong một cá thể thì thành phần này là ổn định trong 1 thời gian dài.

Ths Nguyễn Lân

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Vi khuẩn đường ruột là gì

Vi khuẩn chí đường ruột là các vi khuẩn sống bình thường trong đường tiêu hoá và thực hiện nhiều chức năng có lợi cho con người.

.

Cơ thể con người có khoảng 10^13 tế bào, trong khi đó số vi khuẩn có trong đường ruột còn gấp mười lần. Phần lớn vi khuẩn ở trong ruột và 60% trong phân. Có khoảngtừ 300 đến 1000 loài vi khuẩn sống trong đường ruột, trung bình khoảng 500 loài. Tuy nhiên mỗi cá thể có khoảng từ 30-40 loài chiếm ưu thế. Nấm(Saccharomyces boulardii) cũng là một phần của vi khuẩn đường ruột, nhưng hoạt động của chúng ít được biết đến.Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa vi khuẩn và con người không chỉ đơn thuần là mối liên quan hội sinh (không gây hại) mà là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau – mối quan hệ cộng sinh.

vi khuan duong ruot nguoi

Vi khuẩn đường ruột ở người

Vai trò vi khuẩn đường ruột

.

Mặc dù con người có thể sống mà không cần đến vi khuẩn chí đường ruột, nhưng trong thực tế, các vi khuẩn chí thực hiện nhiều chức năng có lợi cho con người, như làm lên men các chất chứa năng lượng chưa được sử dụng, tác động lên hệ miễn dịch, kìm hãm sự phát triển của các vi khuẩn có hại, điều hoà sự phát triển của ruột, tạo ra vitamin cho cơ thể như biotin vàvitamin K, tạo hóc môn điều khiển dự trữ mỡ của cơ thể…

.

Tuy nhiên, trong một số tình huống nhất định thì một số loài có thể gây bệnh và làm tăng nguy cơ gây ung thư. Không phải tất cả các vi khuẩn ăn vào đều là probiotic vì bên cạnh việc lên men các loại thực phẩm thì lợi ích của nó chưa được xác định vàcác vi khuẩn cũng có các cơ chế khác nhau tác động lên cơ thể.Các thực phẩm lên men, đặc biệt là các sản phẩm làm từ sữa như sữa chua, đãđược sử dụng từ lâu. Ngày nay thực phẩm và nước giải khát có chứa các vi khuẩnsản sinh acid lactic (LAB) chiếm khoảng 40% thực phẩm sử dụng trên thế giới,các vi khuẩn LAB đặc biệt là các loài Lactobacilli, Bifidobacteria, Streptococcuslà được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm, chúng hiếm khi gây bệnh nhiễm trùng và có tác hại đối với cơ thể con người. Chỉ có một số nhỏ các loài này được nghiên cứu và có tác dụng như một probiotic.

.

Các loại vi khuẩn đường ruột

.

Các probiotic thường được nghiên cứu cho đến nay là loài Lactobacillus bao gồm các chủng như L.Rhamnosus (GG), L.Acidophilus, L.Casei, L.Johnsonii, L.Reuteri là được nghiên cứu nhiều nhất ở người. Đối với loài Bifidobacteria, các chủng được nghiên cứu nhiều nhất là B.Breve, B.Infantis, B.Lactis, B.Longum. Tên gọi của các chủng cũng có sự thay đổi ví dụ như B.Lactis còn được gọi là B.Bifidum, B.Animalis hoặc Bifidobacterium, BB12. Rhamnosus của chủng Lactobacillus Pacasei còn được gọi là Lactobacillus GG.

Ths Nguyễn Lân

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Các loài vi khuẩn đường ruột mới

Một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Đan Mạch đã xác định được thêm 500 chủng loại vi sinh vật sinh sống trong đường ruột và 800 loại virus có thể tấn công những vi sinh vật này.

vi khuan 2
Phát hiện này có thể mở đường cho những phương thức điều trị mới, đồng thời có thể mở ra một lối thoát cho cuộc khủng hoảng kháng thuốc kháng sinh đang diễn ra hiện nay.

 

 

Sử dụng một công nghệ được phát triển nhằm phân tích thông tin trên chuỗi DNA, các nhà nghiên cứu đã nhận diện được thêm một số lượng lớn các loại vi khuẩn đường ruột, khiến số lượng các loại vi khuẩn đường ruột được nhận diện từ trước tới nay tăng lên hơn gấp đôi.

 

 

“Sử dụng phương pháp của chúng tôi, các nhà nghiên cứu đã có thể xác định chính xác và thu thập dữ liệu gen từ các vi sinh vật chưa được biết đến ngay cả trong những quần xã vi sinh vật phức tạp,” giáo sư Søren Brunak, người đứng đầu nghiên cứu cùng với phó giáo sư Henrik Bjørn Nielsen cho biết.

 

 

“Điều này cho chúng ta một cái nhìn bao quát mà chúng ta chưa bao giờ thấy được trước đó,” giáo sư Soren Brunak nói.

 

 

Cùng với những hiểu biết mới về cách thức tương tác giữa vi khuẩn và virus, kết quả nghiên cứu này nhiều khả năng sẽ mang tới nhiều thông tin và có thể là những phương pháp điều trị mới cho các chứng bệnh như tiểu đường tuýp 2, béo phì, hay thậm chí là hen suyễn.

 

 

Hệ sinh vật đường ruột là một lĩnh vực mới đầy hứa hẹn đối với các nhà khoa học cũng như các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, và đây là nghiên cứu đầu tiên quan sát được những tương tác giữa các loại khuẩn đường ruột có lợi và một số loại virus.

 

 

“Nghiên cứu này cho chúng ta biết rằng virus nào tấn công vi khuẩn nào, điều này ảnh hưởng lớn tới việc vi khuẩn bị tấn công có thể sống sót trong đường ruột trong một thời gian dài hay không,” Henrik Bjørn Nielsen cho biết.

 

 

Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng những phát hiện mới này là rất quan trọng đối với tình trạng kháng thuốc kháng sinh đang ngày một trở nên đáng lo ngại, được coi là một mối đe dọa về sức khỏe trên toàn cầu.

 
Bjørn Nielsen cũng đề cập đến việc các nghiên cứu tìm hiểu về công dụng của vi khuẩn và virus trong việc chống lại các chứng bệnh đã không nhận được sự quan tâm trong thời gian trước khi cuộc khủng hoảng kháng thuốc kháng sinh xảy ra.

 

 

“Trước đây chúng tôi đã thử nghiệm việc sử dụng vi khuẩn và virus để chống lại các loại bệnh, tuy nhiên những thử nghiệm này đã bị gạt sang một bên, bởi các tác nhân kháng sinh vẫn hoạt động hiệu quả trong việc chữa trị nhiều bệnh truyền nhiễm,” phó giáo sư cho hay.

 

 

Bjørn Nielsen nói: “Giờ đây nếu chúng ta có thể tìm hiểu thêm về việc virus nào tấn công vi khuẩn nào, thì các vi sinh vật có thể là một lựa chọn khác thay thế cho các tác nhân kháng sinh.”

 

 

Nghiên cứu này được đăng trên tờ Nature Biotechnology./.

My Nguyễn (Vietnam+)

Đọc tiếp:

 

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Tầm quan trọng của vách tế bào ly giải vi khuẩn với sức khỏe con người

Hàng nghìn năm trước, những nông dân ở Mesopotamia đã nhận thấy sữa để trong túi da dê trở nên chua ở nhiệt độ nóng và cho ra một đồ uống ngon, sệt sệt, gọi là sữa chua. Tới năm 1905,  một người Bulgari có tên Stamen Grigorov phát hiện ra một trong những sinh vật lên men ở trong sữa chua là Lactobacillus bulgaricus. Sau đó. sản phẩm này đã được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước về đặc tính tăng cường sức khỏe.

 

Tại thời điểm đó, những nông dân và nhà khoa học Bulgari kia chưa hình dung ra đến một ngày công nghệ giải trình tự sẽ cho phép chúng ta phân tích về trình tự gen của hàng tỷ vi khuẩn đường ruột, cũng như phân tích sự chuyển hóa phong phú các chất do lợi khuẩn sản xuất để chỉ dẫn hệ thống miễn dịch.

 

Một phát hiện còn gây ngạc nhiên hơn là không chỉ các vi khuẩn sống mới giúp ích con người – mà chính các phân tử ly giải của vách tế bào vi khuẩn cũng gửi những thông tin quan trọng tới hệ miễn dịch của chúng ta. Khi vi khuẩn bị phân giải, chúng dường như tác động nhanh hơn và có thể ổn định bền vững mà không yêu cầu về thức ăn hay kiểm soát nhiệt độ như những vi khuẩn sống.

vi khuan duong ruot

Ở đây, chúng ta sẽ xem những nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng mới nhất về vi khuẩn đường ruột, cả dạng sống và đã bị ly giải:

 

Sự ảnh hưởng của vi khuẩn đường ruột lên cơ thể chúng ta khá phức tạp, và đôi khi vi khuẩn “chết” cũng có tác động rất mạnh. Dù là sống hay chết thì thành vách tế bào vi khuẩn vẫn chứa các phân tử  kích hoạt hệ thống miễn dịch của chúng ta. Chúng làm như là có sự xâm nhiễm nguy hiểm và cơ thể con người sẽ sinh ra các cytokine, interleukin, TNF- alpha, superoxide, peroxide và nhiều chất khác để phòng vệ.

 

Các loại vi khuẩn khác nhau có thành phần vách tế bào đặc trưng để gửi những tín hiệu này. Vi khuẩn Gram âm ( như Klebsiella pneumonia) gây viêm thông qua thành phần lipopolysaccharide (LPS) trên vách tế bào. Ngược lại, vi khuẩn Gram dương có vách ngoài dày (như Staphylococcus aureus và vi khuẩn Streptococci ăn thịt) được tạo ra từ peptidoglycan.

 

Theo nhà hóa sinh Michael Pabst, đại học Tennessee: “Peptidoglycan tạo ra một chiếc rổ lớn giữ lớp màng của vi khuẩn và thành phần bên trong chống lại áp lực thẩm thấu. Khi vi khuẩn bị ly giải, chiếc rổ bị phá vỡ. Chúng giải phóng các muramyl peptide và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra muramyl peptide gây sốt, buồn ngủ và triệu chứng giống cảm cúm. Khi có mặt các muramyl peptide, hệ miễn dịch phản ứng bằng cách hoạt hóa nhanh chóng để chống lại sự xâm nhiễm. Đáp ứng này là không đặc hiệu. Ở chuột, các muramyl peptide chống lại sự xâm nhiễm chết người gây ra bởi vi khuẩn, nấm và kí sinh trùng. Ông Pabst đưa ra ý kiến rằng “Các muramyl peptide có thể rất quan trọng cho việc hoạt động chính xác của hệ miễn dịch và chúng tác động như các vitamin cho hệ miễn dịch”.

 

Một nghiên cứu gần đây từ Argentina cũng thấy rằng loài Lactobacillus casei, probiotic phổ biến trong các sản phẩm bơ sữa lên men, còn sống hoặc bị ly giải gây kích thích các tế bào miễn dịch. “Vi khuẩn nguyên vẹn hoặc các mảnh vỡ của nó tiếp xúc với tế bào miễn dịch ở ruột…giúp tăng cường củng cố hàng rào miễn dịch không đặc hiệu và điều hòa đáp ứng miễn dịch bẩm sinh, đảm bảo cân bằng đường ruột”.

 

Các nghiên cứu từ đầu và giữa thập niên 1990 thấy rằng vi khuẩn Lactobacillus bulgaricus ly giải làm tăng sự kháng khuẩn ở chuột. Khi chuột được dùng vi khuẩn ly giải, số chuột bị chết do nhiễm vi khuẩn Klebsiella pneumonia hoặc Listeria monocytogenes ít hơn . Ly giải của Escherila coli làm giảm chứng viêm ruột kết ở chuột. Sản phẩm ly giải hoặc bị giết chết bằng nhiệt của  Propionibacterium acnes chứa một phức hợp đường mà làm tăng rõ rệt tế bào giết tự nhiên và các tế bào miễn dịch khác trên chuột.

 

Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng cả tế bào nguyên vẹn và các mảnh thành tế bào của Lactobacillus có khả năng ngăn các mầm bệnh bám vào đường tiết niệu của phụ nữ. Các vi khuẩn Lactobacillus casei bị giết bằng nhiệt đã bảo vệ chuột khỏi nhiễm Cytomegalovirus, bằng việc tăng hoạt động của tế bào giết tự nhiên. Sản phẩm ly giải của Bifidobacterium longum thậm chí còn có khả năng làm dịu làn da nhạy cảm, giảm giãn mạch, sưng tấy, quá trình thoát  hạt tế bào mast và TNF- alpha.

 

Lactobacillus rhamnosus là một trong những probiotic được nghiên cứu nhiều nhất. Nó có một lịch sử nghiên cứu rất lâu dài ở Châu Âu chứng minh tiềm năng của vách tế bào chính nó trong sự hoạt hóa hệ miễn dịch. Vào những năm 1960, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng sản phẩm ly giải thành tế bào L.rhamnosus chứa các phân tử đường và protein đã điều hòa đáp ứng miễn dịch. Vào năm 1980, nghiên cứu sâu hơn đã xác nhận rằng cả tế bào nguyên vẹn và thành tế bào của Lactobacillus rhamnosus đều làm tăng sức mạnh hệ miễn dịch.

 

Cuối thập kỷ 90, các nhà khoa học Mỹ bắt đầu tiếp cận với ý tưởng này và đi sâu vào việc hoàn thiện công nghệ ly giải tế bào và chiết tách, cho ra đời nhiều sản phẩm mang công dụng hỗ trợ điều biến miễn dịch khác nhau. Trong đó, ImmuneGamma® là chế phẩm được chiết xuất từ chủng vi khuẩn thuần chủng Lactobacillus fermentum, với công nghệ tách chiết bằng hỗn hợp Enzymes đặc biệt để phân tách tế bào vi khuẩn L.fermentum thành hàng trăm ngàn mảnh nhỏ .

 

Vào năm 2010, ImmuneGamma® đã được chuyển giao về Việt Nam và được sản xuất tại Công ty TNHH Tư vấn Y dược Quốc tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu công nghệ sinh học BRI Hoa Kỳ (Biotech Research Institute). Đến nay, ImmuneGamma®  đã được ứng dụng và sản xuất thành công trong một số sản phẩm phẩm như Tràng Phục Linh, BigBB, Nữ Vương, Maxxhair, Niệu Bảo mang lại một cách thức điều trị hoàn toàn mới và an toàn cho người sử dụng.

 

Theo ImmuneGamma.vn

Đọc tiếp:
Hệ vi khuẩn đường ruột và Sức khỏe con người

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Hệ vi khuẩn đường ruột và Sức khỏe con người

Tên bài báo: Hệ vi khuẩn đường ruột và Sức khỏe con người

Tác giả:                  Nguyễn Văn Thanh – Hồ Thị Yến Linh

Bộ môn Vi sinh – Khoa Dược – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Tên tạp chí:  Y Học TP. Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2001                                                                         Tập 5 Số 4

 

TÓM TẮT :
Các vi khuẩn đường ruột của bạn có rất nhiều tác dụng mà có lẽ chẳng bao giờ bạn mơ đến. Những sinh vật này tạo ra nhiều chất có thể: ngăn cản các khối u ung thư; bất hoạt các virus; tạo ra các kháng thể tự nhiên và các vitamin; làm giảm cholesterol,. và các nghiên cứu mới về những vi khuẩn này hứa hẹn những điều kỳ diệu hơn nữa.

 
Kể từ khi bắt đầu thoát khỏi nhau thai trong quá trình sinh sản, cơ thể người bắt đầu tiếp xúc, tích lũy vi khuẩn có lợi. Những vi khuẩn có lợi này rất cần thiết cho nhiều chức năng của con người. Chúng đi vào cơ thể thường nhất là qua đường miệng, từ đó nhanh chóng vào ống tiêu hoá của cơ thể, tại nơi này chúng sẽ thiết lập những quần thể vi khuẩn lớn; chẳng bao lâu trở thành một phần chủ yếu của hệ vi sinh vật đường tiêu hoá. Khi được thiết lập trong cơ thể, chúng thực hiện hoặc kích thích một số chức năng quan trọng, có thể kể:

 
Nâng cao chức năng của toàn bộ đường tiêu hoá.
Bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh hoặc chống lại những tác nhân xâm lấn bên ngoài.
Duy trì sự cân bằng của hệ dạ dày-ruột.
Sản xuất và điều hòa nồng độ các vitamin (sinh tố) và hócmon (nội tiết tố).
Thực hiện chức năng miễn dịch và đáp ứng miễn dịch.
Sức khỏe con người, hệ vi khuẩn ở ruột và bệnh tật là những vấn đề đang được quan tâm đến. Ruột người chứa hàng trăm tỉ vi khuẩn có thể tạo nên 30% khối lượng phân.

 
Hệ vi khuẩn ở ruột gồm hai loại, vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại. Hai loại vi khuẩn này ở trạng thái cân bằng nhau và vi khuẩn có lợi chiếm tỉ lệ ưu thế hơn ở người khỏe mạnh. Các vi khuẩn có lợi trong ruột tạo ra các chất có lợi chủ yếu như vitamin hoặc các acid hữu cơ được ruột hấp thu ở niêm mạc ruột, ở gan. Các acid hữu cơ này có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của các tác nhân gây bệnh ở ruột.

 
Một số vi khuẩn khác ở ruột tạo ra các sản phẩm có hại cho vật chủ như các chất độc và các chất gây ung thư. Một khi các vi khuẩn này chiếm ưu thế trong ruột thì các dưỡng chất cần thiết không được sản xuất và nồng độ các chất có hại tăng lên. Các chất này có thể không có tác động có hại ngay lập tức trên vật chủ nhưng được xem là các yếu tố gây ra sự lão hóa, ung thư, các bệnh gan, thận, cao huyết áp và xơ vữa động mạch, khả năng miễn dịch kém….

 
Các rối loạn chức năng nhu động ruột, phẫu thuật dạ dày hay ruột non, các bệnh gan, thận, bệnh thiếu hồng cầu, ung thư, xạ trị, liệu pháp kháng sinh, rối loạn chức năng miễn dịch, stress, chế độ ăn thiếu chất dinh dưỡng và tuổi già… tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển và có thể làm mất sự cân bằng của hệ vi khuẩn ở ruột.

 
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là sự cân bằng bình thường của hệ vi khuẩn ở ruột có thể được duy trì hay được khôi phục từ trạng thái mất cân bằng bằng liệu pháp vi khuẩn đường uống hay một chế độ ăn thích hợp.Liệu pháp vi khuẩn đường uống sử dụng các chủng vi khuẩn lactic đường ruột như Lactobacillus và Bifidobacteria giúp tạo được các chất có lợi và khôi phục sự cân bằng hệ vi khuẩn ở ruột. Chúng làm giảm táo bón và các bệnh khác của tuổi già do ức chế quá trình lên men thối ở ruột; phòng và trị tiêu chảy do kháng sinh, kích thích hệ thống miễn dịch hay làm tăng sức đề kháng với bệnh nhiễm.

 

 

Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh:          Dowload

 

Đọc tiếp:

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.

Điều khiển quần xã sinh vật để kiểm soát cân nặng

Theo nghiên cứu mới tập trung vào sự tương tác giữa bữa ăn, vi sinh vật sống trong ruột và hệ miễn dịch thì vacxin và chất kháng khuẩn có thể tham gia vào hạn chế lượng calo hay phẫu thuật chữa béo phì như là một biện pháp điều chỉnh trọng lượng.

 Vi khuẩn 5

Trong nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nature Immunology, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Chicago đã làm sáng tỏ một vài cơ chế điều chỉnh cân nặng cơ thể. Nhóm tập trung vào mối quan hệ giữa hệ miễn dịch, vi khuẩn đường ruột, sự tiêu hóa và béo phì. Nhóm đã chỉ ra rằng cân nặng tăng không phải do quá tải calo mà do sự tác động qua lại giữa vi khuẩn đường ruột và phản ứng miễn dịch.

 

Để xác định tác động của vi khuẩn và hệ miễn dịch, các nhà nghiên cứu đã so sánh những con chuột bình thường và những con chuột có khiếm khuyết di truyền khiến chúng không thể sản sinh ra lymphotoxin, một phân tử giúp điều chỉnh tương tác giữa hệ miễn dịch và vi khuẩn đường ruột. Những con chuột thiếu lymphotoxin không bị thừa cân ngay cả sau khi ăn thức ăn có nhiều chất béo.

 

Ở khẩu phần ăn bình thường, cả hai nhóm chuột đều duy trì cân nặng ổn định. Nhưng sau 9 tuần ăn thực đơn nhiều chất béo, những con chuột bình thường đã tăng 1/3 khối lượng, hầu hết là béo. Những con chuột thiếu lymphotoxin cũng ăn như vậy nhưng không tăng cân.

 

Thức ăn giàu chất béo gây ra những biến đổi trong vi khuẩn đường ruột ở cả hai nhóm. Những con chuột bình thường có sự gia tăng đáng kể vi khuẩn có liên quan tới bệnh béo phì và các vấn đề sức khỏe. Những con chuột thiếu lymphotoxin không có khả năng lấy đi vi khuẩn dạng sợi phân đoạn được tìm thấy trước đó để tạo ra một số phản ứng miễn dịch trong ruột.

 

Vai trò của vi khuẩn đường ruột được khẳng định khi các nhà nghiên cứu chuyển các thành phần trong ruột từ những con chuột nghiên cứu sang những con chuột bình thường lớn lên trong môi trường không có mầm bệnh, do đó thiếu quần xã sinh vật của bản thân chúng. Những con chuột nhận được vi khuẩn cộng sinh có lymphotoxin tăng cân nhanh chóng. Những con chuột nhận được vi khuẩn từ chuột thiếu lymphotoxin tăng cân ít hơn trong 3 tuần, cho đến khi hễ miễn dịch nguyên sơ của chúng bắt đầu bình thường hóa với hỗn hợp vi khuẩn.

 

Theo Vaibhav Upadhayay, tác giả đầu tiên của nghiên cứu, con người có thể ức chế các tác dụng phụ của bệnh béo phì bằng cách điều chỉnh sinh vật và điều khiển phản ứng miễn dịch. Tuy nhiên, với hơn 500 chủng vi khuẩn khác nhau trong ruột, cần xác định được các chủng chính xác thúc đẩy sự tăng cân và vật chủ cụ thể phản ứng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.

NASATI (H.N.M – Theo Medicalexpress, 8/2012)

 

Nguyên liệu ImmuneGamma được sản xuất tại Công ty TNHH Tư Vấn Y Dược Quốc Tế IMC theo hợp đồng chuyển giao độc quyền công nghệ từ Viện nghiên cứu Biotech Research Institute Hoa Kỳ.

Tên thương hiệu ImmuneGamma đã được công ty IMC đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam với nhãn hiệu số 174780.